Đặt lịch hẹn khám
Các chuyên gia
Xem các chuyên giaTổng đài
Nếu bạn hoặc người thân đang trong tình trạng khẩn cấp, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số sau
Bạn từng chứng kiến ai đó đột ngột co giật, mất ý thức và hoảng hốt không biết phải làm gì? Khoảnh khắc ấy khiến nhiều người lo sợ và tự hỏi: Liệu đây có phải là động kinh? Thực tế, động kinh không phải là căn bệnh xa lạ nhưng lại thường bị hiểu lầm và gắn với nhiều định kiến. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bản chất của bệnh động kinh dưới góc nhìn y học hiện đại và y học cổ truyền, từ đó có cái nhìn đúng đắn và lựa chọn hướng điều trị phù hợp.
Động kinh là gì?
Động kinh (trong Tây y gọi là epilepsy, trong dân gian thường gọi là "giật kinh phong") là một rối loạn mãn tính của hệ thần kinh trung ương. Theo y học hiện đại, đây là tình trạng các tế bào thần kinh trong não phóng điện đột ngột, quá mức và không kiểm soát được, gây ra những cơn co giật, thay đổi hành vi, cảm giác bất thường, hoặc mất ý thức.
Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 50 triệu người trên toàn cầu mắc bệnh động kinh, trong đó gần 80% ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, ước tính khoảng 2% dân số bị động kinh, trong đó gần 60% là trẻ em. Điều đáng chú ý là hơn một nửa số bệnh nhân không tìm được nguyên nhân rõ ràng gây bệnh.
Hiểu động kinh theo y học cổ truyền
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, động kinh được gọi là "Điên Hiển", được ghi nhận từ "Hoàng Đế Nội Kinh" (770-221 TCN). Bệnh được hiểu là do rối loạn khí huyết, mất cân bằng âm dương.
Nguyên nhân chính theo YHCT:
- Phong đàm tổ khiếu: Đàm thấp tích tụ kết hợp phong tà xâm nhập, gây bít tắc các khiếu ở não. Khi khí huyết không lưu thông thông suốt, người bệnh có thể xuất hiện các cơn co giật, mất ý thức đột ngột.
- Can dương thượng cang: Gan hỏa bốc lên do can âm hư hoặc can khí uất kết, làm rối loạn thần minh. Thường có biểu hiện nóng giận, căng thẳng, mất ngủ.
- Đàm hỏa nhiễu tâm: Nhiệt độc kết hợp đàm thấp gây rối loạn tinh thần, thường thấy ở người ăn nhiều cay nóng, chiên rán.
- Can thận âm hư: Tuổi già, bệnh tật kéo dài làm hao tổn can âm, thận âm, không nuôi dưỡng não tủy được. Thường thấy ở người lớn tuổi, ốm yếu lâu ngày.
Khi bị động kinh sẽ ra sao?
Động kinh toàn thể
Cơn lớn (80-86%): Có giai đoạn tiền triệu (cảm giác lạ vài giây đến vài phút), sau đó đột ngột mất ý thức, ngã quỵ, toàn thân cứng đơ rồi co giật dữ dội. Người bệnh có thể cắn lưỡi, sùi bọt mép, mắt trợn ngược, tiểu không tự chủ. Cơn kéo dài 2-3 phút, sau đó lờ đờ, mệt mỏi, đau đầu, không nhớ gì về cơn.
Cơn vắng ý thức (0,8-11%): Hay gặp ở trẻ em. Người bệnh gặp tình trạng đột ngột dừng hoạt động, nhìn chằm chằm, mắt đảo lên 5-30 giây rồi tiếp tục bình thường. Thường bị bỏ qua vì rất ngắn.
Động kinh cục bộ
Cục bộ đơn giản: Không mất ý thức. Co giật một chi hoặc một bên mặt, cảm giác lạ (kim châm, tê bì), nhìn thấy ánh sáng chớp, ngửi mùi lạ. Bệnh nhân tỉnh táo và nhớ rõ cơn.
Cục bộ phức tạp: Có thay đổi ý thức (lú lẫn). Hành vi lặp lại như nhai mồm, liếm môi, vò quần áo, đi lang thang. Sau cơn không nhớ gì.
Động kinh có di truyền không?
Câu trả lời: Có, nhưng không hoàn toàn.
Yếu tố di truyền đóng vai trò trong một số loại động kinh, nhưng gen chỉ là yếu tố nguy cơ chứ không phải nguyên nhân duy nhất. Nếu bố hoặc mẹ mắc động kinh nguyên phát, con cái có nguy cơ cao hơn nhưng không chắc chắn sẽ mắc bệnh. Gen chỉ khiến người ta nhạy cảm hơn với các yếu tố môi trường (chấn thương, nhiễm trùng, stress) có thể kích hoạt cơn.
Theo YHCT, thể chất cha mẹ (tiên thiên bản nguyên) đóng vai trò quan trọng. Nếu cha mẹ có thể chất can dương thịnh, can thận âm hư, hoặc đàm thấp, con cái dễ thừa hưởng và có nguy cơ cao khi gặp yếu tố kích thích.
Nguyên nhân gây động kinh
Động kinh nguyên phát (50% ca)
Không tìm được tổn thương cấu trúc ở não qua xét nghiệm. Theo YHCT, thường do mất cân bằng âm dương bẩm sinh, hoặc tích tụ đàm thấp, huyết ứ lâu ngày.
Động kinh thứ phát
- Chấn thương sọ não: Tai nạn, ngã, va đập mạnh
- Đột quỵ: Nguyên nhân chính ở người >35 tuổi
- Nhiễm trùng não: Viêm màng não, viêm não, sán não
- U não và dị dạng mạch máu não
- Thiếu oxy não: Sảy thai, sinh khó, ngạt sơ sinh
- Rối loạn chuyển hóa: Hạ đường huyết, hạ canxi, suy gan thận
- Lạm dụng rượu, ma túy, một số loại thuốc
Động kinh có chữa được khỏi không?
Với trẻ em: 60-70% trẻ bị động kinh có thể ngưng cơn hoàn toàn khi lớn lên nhờ não bộ trưởng thành, đặc biệt các thể động kinh lành tính.
Với người lớn: 70% có thể kiểm soát cơn tốt bằng thuốc. Nếu không có cơn trong 2-5 năm liên tục, bác sĩ có thể cân nhắc giảm dần và ngưng thuốc. Khoảng 30% cần dùng thuốc suốt đời.
Trường hợp kháng thuốc: 30% bệnh nhân không đáp ứng với ít nhất 2 loại thuốc, có thể cần phẫu thuật hoặc phương pháp khác.
Theo YHCT, động kinh có thể chữa khỏi nếu điều trị đúng căn nguyên và kiên trì. Tuy nhiên, thể hư lao (can thận âm hư) khó điều trị hơn thể thực (đàm hỏa, can dương vượng).
Phương pháp điều trị động kinh
Điều trị bằng Y học cổ truyền tại Bệnh viện Châm cứu Trung Ương
Bệnh viện Châm cứu Trung ương là cơ sở y tế hàng đầu về điều trị bệnh lý thần kinh bằng y học cổ truyền kết hợp hiện đại. Với gần 40 năm kinh nghiệm, bệnh viện có phác đồ điều trị động kinh, đặc biệt hiệu quả với động kinh ở trẻ em và các ca kháng thuốc.
Phương pháp châm cứu
Châm cứu là phương pháp chính điều trị động kinh trong y học cổ truyền. Theo các nghiên cứu từ Trung Quốc và quốc tế đăng trên PLOS One, châm cứu kết hợp thuốc thảo dược giúp giảm tần suất cơn co giật, cải thiện điện não đồ và giảm tác dụng phụ so với dùng thuốc Tây đơn thuần.
Huyệt đạo điều trị động kinh toàn thể:
- Bách Hội (GV20): Huyệt chính điều trị động kinh, nằm ở đỉnh đầu, có tác dụng an thần, trấn tĩnh, tán phong.
- Đại Chùy (GV14): Tán phong thanh nhiệt, thông đốc mạch
- Nội Quan (PC6): An thần, hóa đàm, khai khiếu
- Cửu Vĩ (CV15): Trấn tĩnh tâm thần, hóa đàm khai khiếu
- Phong Long (ST40): Huyệt chuyên trị đàm, hóa đàm giáng trọc
Huyệt đạo điều trị cơn động kinh cấp (status epilepticus):
- Nhân Trung (GV26): Cấp cứu khi lên cơn, khai khiếu tỉnh thần
- Hợp Cốc (LI4) + Thái Xung (LR3): Tứ quan huyệt, sơ can lý khí – bình can tức phong – điều hòa khí huyết toàn thân.
- Dũng Tuyền (KI1): Tiếp dẫn hỏa hạ, tĩnh thần
- Thần Môn (HT7): An thần tĩnh tâm
Huyệt bổ trợ theo thể: Can dương vượng thêm Thái Xung (LR3), Can Du (BL18). Đàm hỏa thêm Phong Long (ST40), Trung Quản (CV12). Can thận âm hư thêm Thận Du (BL23), Thái Khê (KI3).
Kỹ thuật điện châm: Kết hợp kích thích điện tần số thấp (2-4 Hz) tại các huyệt Bách Hội, Diêu Khê, Nội Quan giúp tăng hiệu quả chống co giật, ức chế phóng điện bất thường ở não. Nghiên cứu trên động vật cho thấy điện châm có tác dụng điều hòa dẫn truyền thần kinh qua con đường PI3K/Akt, bảo vệ tế bào thần kinh khỏi chết theo chương trình.
Thuốc thảo dược Y học cổ truyền
- Thể phong đàm: Bán Hạ Bạch Truật Thiên Ma Thang với Thiên ma, Câu Đằng, Bán hạ, Bạch truật - hóa đàm trừ phong. Đinh Phong Trân Chân Đan với Mẫu lệ, Trân châu, Linh dương giác - trấn kinh.
- Thể can dương vượng: Thiên Ma Câu Đằng Ẩm với Thiên ma, Câu đằng, Thạch quyết minh, Đỗ trọng - bình can tiềm dương.
- Thể đàm hỏa: Lễ Đàm Thang hợp Long Đởm Tả Can Thang - thanh nhiệt hóa đàm.
- Thể can thận âm hư: Lục Vị Địa Hoàng Hoàn hợp Nhị Chí Hoàn - bổ can thận âm.
Nghiên cứu dược lý cho thấy Thiên ma, Câu đằng, Xương bồ, Toan táo nhân có tác dụng chống co giật, bảo vệ thần kinh.
Cứu Nóng, Bấm Huyệt và Ưu Điểm
Cứu tại Bách Hội, Đại Chùy, Thần Khuyết giúp ấm dương, bổ khí cho bệnh nhân thể hư. Bấm huyệt xoa bóp đầu, vai, gáy giúp lưu thông khí huyết, giảm căng thẳng thần kinh.
Ưu điểm: An toàn không tác dụng phụ, hiệu quả cao với động kinh trẻ em và kháng thuốc, điều trị căn nguyên, cá nhân hóa, chi phí hợp lý, được BHYT hỗ trợ.
Liệu trình điều trị: 10-20 buổi/đợt, mỗi buổi 30-45 phút, tần suất 3 lần/tuần. Thường cần 2-3 đợt điều trị, nghỉ 1-2 tuần giữa các đợt.
Thời gian làm việc linh hoạt: Sáng 7h30-12h, chiều 13h-16h30, tối 16h30-21h, cả thứ 7 và Chủ nhật. Liên hệ: 024.3562.4156.
Điều trị Y học hiện đại và kết hợp
Thuốc chống động kinh: Valproic acid, Phenytoin, Carbamazepine, Levetiracetam, Lamotrigine. Kiểm soát cơn ở 70% bệnh nhân. Cần dùng đều đặn, không tự ý ngưng.
Phẫu thuật: Cho 30% bệnh nhân kháng thuốc. Cắt bỏ ổ động kinh nếu xác định được vị trí kích thích dây thần kinh phế vị (Vagus Nerve Stimulation – VNS) và Chế độ ăn ketogenic cho một số trường hợp đặc biệt.
Nhiều nghiên cứu cho thấy kết hợp châm cứu, thuốc cổ truyền với thuốc Tây cho kết quả tốt nhất: giảm liều thuốc Tây, tăng hiệu quả kiểm soát cơn, cải thiện chất lượng cuộc sống.
Chăm sóc và phòng ngừa bệnh động kinh
Khi gặp người lên cơn động kinh cần xử lý như thế nào?
>Nên: Giữ bình tĩnh, tính thời gian cơn. Đặt nằm nghiêng tránh sặc. Di chuyển vật sắc nhọn ra xa. Đặt gối dưới đầu. Nới lỏng cổ áo.
>Không: Nhét gì vào miệng. Giữ chặt bệnh nhân. Đổ nước, cho uống thuốc khi còn lên cơn.
=>Gọi 115 khi: Cơn >5 phút, cơn liên tiếp, bị thương, cơn đầu tiên, ngưng thở sau cơn.
Người bệnh tự phòng ngừa cơn động kinh
- Uống thuốc đúng giờ, không tự ý ngưng
- Ngủ đủ giấc (thiếu ngủ là yếu tố kích hoạt phổ biến nhất)
- Tránh stress qua yoga, thiền, hít thở sâu
- Hạn chế rượu, tuyệt đối không dùng ma túy
- Tránh ánh sáng chớp nếu nhạy cảm
- Ăn uống điều độ: tránh đồ ngọt béo sinh đàm, cay nóng sinh hỏa (theo YHCT)
- Tập luyện nhẹ nhàng, tránh bơi lội, leo núi một mình
Động kinh là bệnh lý mãn tính nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát được nếu được chẩn đoán và điều trị đúng cách. Bệnh có yếu tố di truyền nhưng không phải ai có gen cũng đều phát bệnh. Với phương pháp điều trị hiện đại và y học cổ truyền, đặc biệt là kết hợp châm cứu, thuốc thảo dược, hơn 70% bệnh nhân có thể kiểm soát cơn tốt và sống một cuộc sống gần như bình thường.
Hãy nhớ rằng động kinh không phải là bệnh tâm thần, không phải dấu hiệu sa sút trí tuệ. Với sự quan tâm của gia đình, cộng đồng và điều trị đúng đắn, người bệnh động kinh hoàn toàn có thể học tập, làm việc và sinh hoạt bình thường.